Tìm kiếm

Cung An Định


Cung An Định là một trong những cung điện hiếm hoi còn nguyên vẹn ở Việt Nam và Đông Nam Á. Được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới, Cung An Định được xây dựng như một tòa lâu đài cổ kính nguy nga của Châu Âu, với những họa tiết trang trí truyền thống của cung đình. Nơi đây chứng kiến sự giao thoa của thời đại với tinh hoa kiến trúc Đông Tây.



Vị trí


Cung An Định là công trình kiến trúc độc đáo của triều Nguyễn, được xây dựng vào đầu thế kỷ XX. Thời xưa, tòa nhà này được vua Đồng Khánh - vị vua thứ 11 Triều Nguyễn, cha của vua Khải Định cho xây dựng và đặt tên là phủ Phụng Hóa với ý nguyện làm quà cho con trai trưởng là hoàng tử Nguyễn Phúc Bửu Đảo.


Một vài nét về Cung An Định


Năm 1916, hoàng tử Bửu Đảo lên ngôi lấy niên hiệu là Khải Định. Để tưởng niệm nơi mình sinh ra và lớn lên, nhà vua cho xây dựng lại phủ Phụng Hóa bằng kinh phí riêng của cá nhân và đặt tên lại là cung An Định vào năm 1917.


Năm 1922, theo ý nguyện của vua Khải Định, cung An Định được ban cho hoàng tử Vĩnh Thụy, vua Bảo Đại sau này làm của riêng để tỏ lòng thương mến của vua cha.


Đến năm 1945, sau khi làm lễ thoái vị tại Ngọ Môn, cựu hoàng Bảo Đại cùng mẹ là bà Từ Cung, vợ là bà Nam Phương, các con và một số người hầu rời Hoàng Thành đến sinh sống tại cung An Định.


Vốn được xem là nơi khởi phát những điềm lành, nhưng kể từ thời điểm đó, cung là nơi bắt đầu những ngày tháng buồn đau, chia ly khiến hoàng hậu Nam Phương đã nhiều lần rơi nước mắt, gắn liền với “bức thư đánh ghen” đầy thâm thúy.


Sinh thời, Hoàng hậu Nam Phương tên thật là Nguyễn Hữu Thị Lan, vốn là người phụ nữ nức tiếng xứ An Nam bởi lòng nhân từ và nét đẹp thanh cao.


Về câu chuyện giữa cựu Hoàng Bảo Đại và Nam Phương Hoàng Hậu, đó là một tình yêu đẹp bất chấp cách biệt tôn giáo, sự ngăn trở của gia đình nhà vua. Sau 10 năm chung sống hạnh phúc, Nam Phương Hoàng Hậu đã sinh cho Bảo Đại 5 người conTuy nhiên, ngày 2 tháng 9 năm 1945, tức 2 ngày sau khi thoái vị, Bảo Đại được đề cử ra Hà Nội làm cố vấn. Ở đây, Bảo Đại liên tiếp có các mối quan hệ tình ái ngoài luồng. Ban đầu, ông công khai quan hệ với Mộng Điệp, và sau đó là vũ nữ Lý Lệ Hà.


Trong thời gian đó, Nam Phương biết hết mọi chuyện. Năm 1946, Bảo Đại tham gia phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang Trùng Khánh (Trung Quốc) nhưng khi công việc kết thúc, cựu hoàng nhất định không trở về nước. Ông cùng Lý Lệ Hà ở lại Hong Kong.


Thời gian này, Nam Phương Hoàng hậu đã gửi riêng nhân tình của chồng một lá thư: “Em Lý Lệ Hà thân quý. Chị ở xa đức cựu hoàng hàng mấy vạn dặm trùng dương, nhưng chị biết rằng em đang hết lòng hết sức chăm sóc cựu hoàng ở Hong Kong. Chị cầu mong lịch sử mai đây không buông rơi cựu hoàng, còn gặp lại nhau. Đức Từ Cung Thái hậu và chị trọn kiếp nhớ ơn em. Chị Nam Phương!” Bức thư vỏn vẹn 66 từ được người đời thán phục bởi nó hàm chứa rất nhiều điều, đặc biệt, bà không một lời than trách mà thay vào đó là gửi lời cảm ơn, khiến Lý Lệ Hà phải suy nghĩ và gìn giữ bức thư như một kỷ vật rất quan trọng của cuộc đời.


Còn về phần mình, Nam Phương Hoàng hậu chọn sống thầm lặng cùng mẹ chồng tại cung An Định, một lòng chăm lo cho các con. Năm 1947, bà đưa các con sang định cư ở Pháp và dành những ngày cuối đời nơi đất khách.


Từ năm 1955, cung An Định bị chính quyền Ngô Đình Diệm tịch thu và trưng dụng làm khu chung cư cho một số gia đình công chức tại địa phương.


Sau năm 1975, bà Từ Cung, tưc thân mẫu của cựu Hoàng đế Bảo Đại tự nguyện hiến cơ sở này cho chính quyền Cách mạng. Trong thời gian dài, cung An Định được sử dụng làm địa điểm văn hóa công cộng, làm nơi kinh doanh các dịch vụ ăn uống và không được trùng tu, bảo dưỡng nên bị xuống cấp khá nghiêm trọng.


Và sau đó di tích cung An Định đã được trùng tu bảo tồn giá trị kiến trúc và mở cửa cho du khách đến tham quan.


Bên cạnh những giá trị lịch sử, Cung An Định còn sở hữu kiến trúc có một không hai mà nhà nghiên cứu văn hóa Phan Thuận An đã từng đánh giá: Cung An Định là một tổng thể kiến trúc được thiết kế, xây dựng và trang trí theo một phong cách mới so với các biệt cung khác từng xuất hiện trước đó ở Kinh đô triều Nguyễn. Các phương diện kiến trúc, trang trí, điêu khắc, hội họa ở đây đều ghi lại một dấu ấn đậm nét của giai đoạn dung hội giữa Đông, Tây, kim, cổ trong lịch sử mỹ thuật Huế cũng như của Việt Nam.


Tham quan cung An Định


Như chúng ta thấy, tổng thể bên ngoài cung An Định mang dáng dấp của một cung điện nguy nga hoành tráng. Cung quay mặt về hướng nam, phía sông An Cựu. Cung có địa thế bằng phẳng, chung quanh có khuôn viên tường gạch, dày 0,5m, cao 1,8m trên có hàng rào song sắt bao bọc. Khi còn nguyên vẹn cung có khoảng 10 công trình. Từ trước ra sau là: Bến thuyền, Cổng chính, đình Trung Lập, lầu Khải Tường, nhà hát Cửu Tư Đài, chuồng thú, Hồ nước... Tuy nhiên, trải qua thời gian và sự tàn phá của chiến tranh, đến nay cung chỉ còn lại 3 công trình khá nguyên vẹn là Cổng chính, đình Trung Lập và lầu Khải Tường.


1. Cổng chính


Bước từ bên ngoài vào Cung An Định, trước mặt chúng ta là Cổng chính của cung. Cổng được làm theo lối kiến trúc tam quan tức là ba cửa, hai tầng, còn đỉnh mái gắn biểu tượng của viên trân châu lớn. Đặc biệt cổng được trang trí bằng sành sứ đắp nổi rất công phu và độc đáo theo những đề tài đậm chất truyền thống của Việt Nam.


2. Đình Trung Lập


Đình Trung Lập mang hình dáng bát giác, với chòm mái 2 lớp theo dạng cổ lầu. Lớp mái bên dưới bao trọn 8 cạnh, lớn trên cùng gồm 4 cạnh. 12 bờ quyết (bờ guột) của mái đình được đắp nổi 12 con rồng rất đẹp. Khi bước vào bên trong đình Trung Lập ta sẽ thấy bức tượng đồng của vua Khải định được đúc năm 1920 theo tỷ lệ thực. Tượng thể hiện một vị “hoàng đế” kết hợp với một vị “võ quan”: đầu đội mũ kiểu khăn xếp, bên trong mặc áo hoàng bảo đeo thẻ bài “Thụ Thiên Vĩnh Mạng” và “Đại Nam Thiên Tử” ở trước ngực, ngoài áo khoác kiểu “ Tây” xẻ tà từ cổ xuống bụng, hai ngực đeo tới 7 chiếc mề đay, hai vai ngắn ngủ võ quan, chân đi giày da, áo “tây” nhưng lại thêu rồng, mây và sóng. Bức tượng đồng giúp hậu thế đời sau có cái nhìn khách quan và chân thực hơn với nhà Vua Khải Định. Cũng không lấy làm lạ khi Khải Định nổi tiếng với “phong cách ăn mặc lạ lùng".


3. Lầu Khải Tường



Tiếp theo, chúng ta hãy cùng ra phía sau của Đình Trung Lập, nơi có lầu Khải Tường nguy nga, tráng lệ. Đây là công trình kiến trúc chính của cung An Định. Chữ khải Tường nghĩa là nơi khởi phát điềm lành, tên lầu do vua Khải Định đặt. Lầu có 3 tầng, xây dựng bằng các vật liệu mới theo kiểu lâu đài châu Âu, được trang trí rất công phu.


Bước vào Tầng 1 của lầu, ta sẽ thấy ở tiền sảnh có 6 bức tranh gần 90 tuổi, được trang trí trên các mảng tường. Những bức bích họa này được vẽ bằng sơn dầu trực tiếp lên các mảng tường và có khung gỗ ốp viền, chạm khắc hoa mai, lá sen cách điệu rất đẹp. Sáu bức tranh này tuy không đề tên nhưng khi nhìn hình vẽ, người xem có thể dễ dàng nhận biết đó là phối cảnh thật của 5 lăng: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh; riêng bức tranh thứ 6 (tính từ trong ra ngoài) chưa rõ vẽ công trình gì. Có ý kiến cho rằng đây có thể vẽ là bức tranh vẽ lăng Khải Định khi đang ở dạng phác thảo trên bản vẽ và sở dĩ bức họa không giống với lăng Khải Định hiện nay vì sau chuyến đi Pháp năm 1920 về, vua Khải Định đã cho thay đổi thiết kế lăng theo kiểu phương Tây nên không còn giống với bức tranh đã vẽ.


Cả 6 bức tranh không có chữ ký của hoạ sĩ nên đến nay việc xác định tác giả của 6 bức tranh vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên, nét vẽ rất điệu nghệ, nêu bật đặc điểm phong cảnh và nét đẹp của từng lăng, chứng tỏ trình độ có hạng của tác giả.


Năm 2003, Đại sứ quán Cộng hòa liên bang Đức đã tài trợ để phục chế sáu bức tranh tường cổ quý hiếm ở cung An Định, nhờ đó các bức tranh mới hiện lên sinh động như hiện nay. Và khi trùng tu sáu bức tranh, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ở góc một trong sáu bức tranh có chữ ký tên Nguyễn Văn Ngoan (hay Ngoãn). Chỉ đến khi trùng tu sáu bức tranh, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ở góc một trong sáu bức tranh có chữ ký tên Nguyễn Văn Ngoan (hay Ngoãn?). KTS Phùng Phu cho biết nếu đúng là họa sĩ Nguyễn Văn Ngoãn thì đây là một trong những họa sĩ đã tốt nghiệp Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ở Hà Nội trong những khóa đầu tiên.


Nhưng vấn đề rắc rối ở chỗ họa sĩ Nguyễn Văn Ngoãn tốt nghiệp năm 1934, khi cung An Định đã được xây xong từ lâu và Khải Định cũng đã qua đời; và ông Ngoãn sẽ không bao giờ ký tên của mình vào bản vẽ của người khác nếu được mời sửa chữa hay vẽ lại. Còn nếu như những bức tranh này được vẽ sau năm 1934, do ý tưởng của Bảo Đại chẳng hạn, thì bức tranh thứ sáu phải được vẽ đúng như nó chứ! Lại có ý kiến rằng cũng có thể họa sĩ Nguyễn Văn Ngoãn khi chưa đi học Trường Mỹ thuật Đông Dương đã được triều đình Huế trưng dụng… Hai câu hỏi trên nhất định sẽ được làm sáng tỏ. Đây là công việc của các nhà nghiên cứu văn hóa Huế cũng như các nhà nghiên cứu mỹ thuật.


Lên tầng 2 là phòng ngủ của bà Từ Cung - Vợ của vua Khải Định đồng thời là mẹ của vua Bảo Đại, phòng ngủ và phòng giải trí của gia đình vua Bảo Đại và người hầu. Tại đây vẫn còn lưu giữ rất nhiều hiện vật của gia đình Bảo Đại xưa.


Tầng 3 là tầng trên cùng, nơi đây được đặt gian thờ, thờ phụng những người đã khuất.


4. Nhà hát Cửu Từ Đài:


Ngay sau Khải Tường Lâu, chúng ta bắt gặp một hệ thống nền móng của một công trình khá lớn, đó chính là nhà hát Cửu Tư Đài. Đầu thế kỷ XX, dưới thời Bảo Đại, Cửu Tư Đài còn là nơi diễn tuồng, cải lương do Hoàng gia mời những gánh hát nổi tiếng ở trong Nam ra diễn như Phùng Há, Năm Phỉ.. Công trình này bị đổ nát vào năm 1947. Mai đến cuộc khai quật khảo cổ năm 2003, diện mạo nhà hát Cửu Tư Đài được phác họa lại, đó là một tòa nhà quay mặt về hướng bắc và nối với lầu Khải Tường bằng một hành lang.


Nhà hát Cửu Tư Đài gồm có 2 tầng. Hệ thống sân khấu nằm ở giữa mặt nền tầng 1. Khán đài được thiết kế ở cả 2 tầng, phía xung quanh sân khấu. Khán đài danh dự, nơi vua và khán giả thượng cấp ngồi xem nằm ở tầng 2. Phần trang trí nội thất lại tương tự như Cung Thiên Định ở lăng Khải Định như các mặt tường đều được đắp nổi bằng nghệ thuật ghép sành sứ, thuỷ tinh, thể hiện đề tài trang trí truyền thống của Việt Nam. Diện tích của nhà hát lớn với sức chứa hơn 500 khán giả.


Chứng kiến bao nhiêu thăng trầm lịch sử của Triều Nguyễn nói chung và gia đình của Cựu Hoàng Bảo Đại nói riêng, Cung An Định vẫn còn đó, kiên cố và vững chãi. Hình ảnh cung An Định ngày ngày soi mình xuống dòng sông An Cựu đã trở thành một phần không thể thiếu của đất Thần Kinh.


Cuối cùng bạn và tôi đã cùng nhau khám phá hết những điều thú vị về cung An Định. Hy vọng bạn đã có một số khoảnh khắc thú vị. Nếu bạn muốn tìm hiểu chi tiết hơn về các câu chuyện như thế này, hãy tải ngay Virelic về máy. Tạm biệt và hẹn gặp lại


(Bài viết có tổng hợp nhiều nguồn từ Internet)